Huế Xưa & Nay TRT - 11/02/2019
Nhớ Bác những mùa xuân
Chúng ta biết Bác Hồ mồ côi mẹ từ nhỏ; cha con, anh chị em ly tán mỗi người một phương. Bác không lập gia đình riêng, hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng. Đối với mỗi người dân Việt Nam, ngày Xuân về là dịp đoàn tụ gia đình. Bởi thế mà lòng chúng ta càng thêm nhớ Bác với một tình cảm vừa tự nhiên vừa thiêng liêng mỗi khi mùa Xuân đến. Và Bác Hồ đã để lại hình ảnh sâu đậm từ những mùa Xuân mà Người đã gắn vận mệnh mình với vận mệnh dân tộc.

Năm 1911 từ Bến Nhà Rồng ( Sài Gòn) người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên đường “tìm hình của nước” ( thơ Chế Lan Viên). Như một sự tình cờ của thời gian và cũng là một tất yếu của lịch sử, mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Từ đó Đảng và Bác lãnh đạo dân ta giành lại những mùa Xuân cho đất nước. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác đã đón không dưới ba mươi mùa Xuân nơi đất khách quê người, trong đó có cả những mùa Xuân phải sống trong chốn lao tù. Qua bốn biển, năm châu, cho đến một ngày Xuân 1941, Người đặt chân lên Pắc Bó ( Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam:

Bác đã về đây, Tổ quốc ơi !
Nhớ thương hòn đất, ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi!
                (Tố Hữu)

Cũng từ đó, mỗi khi mùa xuân về, Bác thường có thơ chúc Tết đồng bào chiến sỹ. Thơ chúc Tết của Người đều là những vần thơ giản dị, mà súc tích; thể hiện một nhãn quan cách mạng của một lãnh tụ thiên tài. Có lẽ không có nhà lãnh đạo nào trên thế giới hàng năm khi Tết về lại chúc Tết quốc dân, đồng bào bằng thơ như Chủ tịch Hồ Chí Minh; và có lẽ cũng ít có dân tộc nào trên thế giới người dân hồi hộp chờ dón thơ chúc Tết của lãnh tụ mình như ở Việt Nam, với tình cảm vừa thiêng liêng, vừa gần gũi. Trên mỗi chặng đường đi tới của cách mạng, thơ Xuân của Người là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân ta. Một tư liệu cho biết trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác đã viết 19 bài thơ chúc Tết. Về nước năm 1941, năm 1942 Bác đã có thơ Xuân:

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ngày càng tiến tới!

Năm 1947 Bác đọc thơ chúc Tết trong tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp đã rền vang từ ngày 19.12.1946. Lời thơ như lời hịch âm vang sông núi:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông! 

Bác đọc thơ chúc Tết trong phòng ghi âm của Đài Tiếng nói Việt Nam, lúc này sơ tán tại chùa Trầm ( Hà Tây). Trong dịp đặc biệt này, nhà sư trụ trì đã phấn khởi xin Người “ cho chữ” đầu xuân. Bác đã viết tám chữ Hán lớn”:

“Kháng Chiến Tất thắng
 Kiến Quốc Tất Thành”

Trong những ngày Xuân, Bác về thăm những bản làng, cơ quan, hợp tác xã, công nông trường, xí nghiệp...; dành tình cảm bao la đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, người dân lao động....Năm 1946, dân tộc ra hưởng cái Tết Độc lập đầu tiên, Bác đi thăm một gia đình nghèo ở nội thành Hà Nội. Ngày Tết mà gia đình chẳng có gì. Tối 30 vợ chồng chủ nhà còn đi gánh nước thuê. Bác vào nhà không báo trước. Chị vợ quá xúc động, đứng sững, làm rơi đôi thùng nước đang gánh trên vai. Chắc nghĩ thân phận mình đâu có được niềm vinh hạnh lớn lao, chị nghẹn ngào thật thà nói trong tiếng nấc: “ Không ngờ Bác đến thăm gia đình cháu”. Vị Chủ tịch nước ôm lấy đôi vợ chồng giọng cũng nghẹn lại: “ Bác không đến thăm cô chú thì thăm ai?”.

Bác còn dành những ngày Xuân ý nghĩa để cảm ơn những người đã cưu mang mình. Năm 1931 Bác bị bắt ở Hồng Kông. Luật sư người Anh Lô- dơ- bai cảm mến trước hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã ra sức bào chữa cho Bác thoát khỏi nhà tù đế quốc. Tết Canh Tý 1960, Bác đã mời gia đình luật sư sang thăm để cảm ơn. Bác ra tận sân bay Gia Lâm đón ân nhân của mình. Hai người ôm hôn nhau thắm thiết, bồi hồi sau 30 năm mới gặp lại. Bác mời gia đình luật sư đi thăm nhiều nơi ở nước ta....Khi đến nơi ở và làm việc của Người, các vị khách rất ngạc nhiên vì sao vị Chủ tịch của một nước lại sống và làm việc ở một nơi bình dự như thế! Khi được người phiên dịch trả lời về gia đình riêng của Bác, bà vợ luật sư đã rưng rưng nước mắt: “Hồ Chủ Tịch là con người hiếm có, Người đã hy sinh tất cả cho dân, cho nước”. Còn ông Lô – dơ – bai thì nói: “Tôi tin Việt Nam sẽ có một vị trí đặc biệt trên thế giới với nhà lãnh tụ tài ba Hồ Chí Minh”.

Có lẽ cũng ít người biết đến việc chính Bác Hồ đã cho cử nông dân miền Bắc sang Quảng Đông (Trung Quốc) học làm vụ lúa xuân. Hồi đó miền Bắc chỉ có 2 vụ lúa “chiêm khê, mùa thối”, nhưng không phải nơi nào cũng làm được 2 vụ. Tháng 7 năm 1962, Bác thăm hợp tác xã Đại Xuân, huyện Ninh Giang (Hải Dương). Năm sau, theo yêu cầu của Bác, 27 nông dân một số tỉnh, sang Trung Quốc học cách làm ăn; trong đó có 4 nông dân Đại Xuân do ông Nguyễn Bít – chủ nhiệm hợp tác xã làm nhóm trưởng học sản xuất vụ lúa Xuân. Sau 7 tháng “vừa học vừa làm”, nhóm ông Bít về nước và trồng thí nghiệm thành công lúa Xuân. Nghe tin, Bác rất phấn khởi, sau đó chỉ đạo nhân rộng việc sản xuất lúa vụ Xuân. Năm 1967 Đại Xuân đạt năng suất 7,6 tấn/ha. Tháng 2/1968, trong lúc bà con xã viên Đại Xuân đang vui đón xuân thì càng vui hơn khi được Bác Hồ gửi thư khen. Nhớ lại chuyện xưa, ông Bít bồi hồi nói: “Bây giờ ở Đại Xuân, bà con vẫn gọi vụ lúa Xuân là vụ lúa Bác Hồ”.

Sinh thời, Bác có viết “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” Người chỉ rõ: “Chúng ta mừng Xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân”. Bác còn căn dặn bằng thơ:

Mừng Xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cổ bàn mới Xuân

Chúng ta hiểu lòng Bác, mùa Xuân gắn với những điều tươi đẹp, lớn lao; niềm vui mỗi người Mừng Xuân phải được hòa vào, nhân lên cùng mọi người, là “mừng cả thế gian”, với cỏ cây sông núi. Ngày 28/11/1959 Bác đã phát động Tết trồng cây mỗi dịp Xuân về; một việc làm đi trước thời đại, có ý nghĩa toàn cầu sâu sắc. Đối với Bác, ngày Xuân, mỗi người trồng một cây là một việc làm nhỏ mà có ý nghĩa lớn lao đối với thiên nhiên, với quê hương, đất nước:

Mùa Xuân là Tết trồng cây
Để cho đất nước càng ngày càng Xuân!

Và từ năm 1960, Tết trồng cây đã trở thành nét đẹp đầu Xuân của dân tộc ta.

Xuân Mậu Thân 1968, Bác đến Đài tiếng nói Việt Nam để đọc lời chúc Tết. Bác đọc thử một lần rồi nhẹ nhàng hỏi: “Các cô, các chú có ý kiến gì đóng góp cho bài của Bác không?”, rồi mới đọc để ghi âm.

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Nhiều người ở chiến trường miền Nam kể lại, đêm giao thừa năm đó được nghe lời chúc Tết của Người trên làn sóng radio xen lẫn tiếng pháo giao thừa hòa với tiếng súng Tổng tiến công Xuân Mậu Thân lịch sử. Thật là những giờ phút thiêng liêng, hào hùng!

Bước sang năm 1969, sức khỏe Người giảm sút nhiều. Thật cảm động biết bao, ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu 1969, Bác vẫn trồng cây ở xã Vật Lại, Ba Vì (Hà Nội), vẫn có thơ chúc Tết:

   Tiến lên chiến sĩ, đồng bào
                Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Kỷ Dậu 1969 đến nay, chúng ta không được nghe thơ chúc Tết của Người.

Ôi 79 mùa Xuân đi qua đời Bác... Người đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc, để đất nước mãi mãi có MÙA XUÂN.

Minh Khiêm

 

Bản in    Gửi email
Tin mới
Những tấm ảnh cũ  (19/08/2019)
Chợ đêm Cầu Ngói Thanh Toàn  (19/08/2019)
Mùa thu xứ Huế  (16/08/2019)
Ý nghĩa lễ cài hoa mùa Vu lan  (15/08/2019)
Ước mơ chinh phục đỉnh Olympia của chàng trai Nguyễn Mạnh Dũng  (12/08/2019)
Xem theo ngày  
Tên của bạn
Email của bạn
Email người nhận
Tiêu đề
Thông điệp
     


Trang chủ | Tin tức | Chuyên đề Liên hệ tòa soạn | Liên hệ quảng cáo
Bản quyền của Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế. Sử dụng thông tin của website này phải ghi rõ nguồn www.trt.com.vn
Giấy phép Số 23/GP-TTĐT cấp ngày 30 tháng 3 năm 2015 của Cục PT, TH & TTDT - Bộ Thông tin và Truyền thông
Tòa soạn: Số 58 Hùng Vương, thành phố Huế, Tel.: (054)3822162, Fax:(054)3822162, Email: dptth@thuathienhue.gov.vn
Thiết kế và phát triển: Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế (HueCIT)