Thừa Thiên Huế 24h TRT - 19/06/2019
Nhớ về những ngày đầu đến với báo chí
Tình cờ, trong một cuộc tiếp xúc với các thầy cô lãnh đạo khoa Báo chí truyền thông trường Đại học Khoa học Huế, nghe họ bàn luận nên lấy ngày nào để tổ chức kỷ niệm ngày thành lập địa chỉ đào tạo báo chí sớm nhất của miền Trung? Có lẽ, ngày nay do ỷ lại vào công nghệ, máy móc nên trí nhớ của con người bỗng trở nên hạn chế và trở thành kẻ bội bạc với chính con người! Nhưng cũng chính nhờ thế, làm tôi nhớ lại con đường đưa tôi đến với nghề báo và công tác đào tạo báo chí cách đây mấy mươi năm.
Ngay từ khi mới về giảng dạy ở khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Huế, tôi đã cố gắng đổi mới, tránh sự lặp đi, lặp lại của một chương trình đào tạo đại học mà thực chất chỉ là “phiên bản thứ hai” của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Một cái áo đã cũ, lại quá chật. Phải tìm cách thoát ra theo hướng nghiêng về phía nghệ thuật học. Những đề tài tốt nghiệp cho sinh viên tôi hướng dẫn thời đó (thật không dễ thông qua hội đồng khoa học của khoa!) chứng tỏ điều này: Sự vận động của lý tưởng thẩm mỹ trong nhạc Trịnh Công Sơn – từ góc nhìn ca từ học (sinh viên Lý Bá Lin, khóa 6, tốt nghiệp 1986), Từ tác phẩm văn học đến kịch bản điện ảnh (Nguyễn Hoài Nam, khóa 7, tốt nghiệp 1987), Thi pháp truyện ngắn Võ Hồng (Nguyễn Văn Long, khóa 9, tốt nghiệp 1989)... Nhưng rồi tình yêu đối với báo chí trỗi dậy, vì từ những năm học đệ thất, đệ lục (lớp 6, lớp7) trường Quốc Học, tôi đã thường xuyên gửi bài cộng tác với tuần báo Thằng Bờm của chị Diệu Huyền (bút danh của nhà văn Nguyễn Vỹ), rồi tham gia làm báo trong phong trào học sinh sinh viên tranh đấu, hơn nữa, cũng vì công cuộc mưu sinh, từ năm 1991, tôi làm thuê cho hai cơ quan báo chí: Trưởng văn phòng đại diện báo Phụ nữ Việt Nam, được cấp thẻ hành nghề, phụ trách 19 tỉnh miền Trung và Thư ký chương trình phát thanh Văn nghệ Đài phát thanh Thừa Thiên Huế (tôi nghỉ công việc ở hai cơ quan này khi không phụ trách ngành đào tạo báo chí ở trường nữa, vào năm 2005) và bắt đầu viết giáo trình giảng dạy Đại cương về báo chí truyền thông.
 
Trong chương trình đào tạo ngành Ngữ văn của Hà Nội, cũng như Huế, báo chí được coi là môn học ngoại khóa học vào năm cuối. Trước đó, thông thường là mời một nhà báo có kinh nghiệm đến báo cáo vài ba buổi  giới thiệu đại cương về báo chí và nghiệp vụ làm báo. Học cho biết, chứ không thi lấy điểm. Những nhà báo như Lê Bá Thuyên, Đỗ Quý Doãn từng được mời giảng dạy môn này. Đến khóa 14, sau khi viết giáo trình được Phân viện báo chí tuyên truyền thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thông qua, tôi phụ trách bộ môn này và sinh viên học, có thi cử hẳn hoi. Trên cơ sở tham khảo chương trình đạo tạo báo chí của Học viện, tôi lập đề án mở mã ngành đào tạo cử nhân báo chí, soạn thảo khung chương trình đào tạo, rồi đặt cho những giảng viên có chuyên môn, hoặc gần gủi về chuyên môn soạn thảo đề cương chi tiết... Một bộ hồ sơ dày khoảng 250 trang giấy A4. Tôi nhớ, trong một cuộc họp liên tịch giữa khoa Ngữ văn, phòng Đào tạo và Ban giám hiệu, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Khoa, Trưởng phòng Đào tạo cho rằng, chương trình này theo qui định của Bộ trị giá khoảng 54 triệu, nhưng nhà trường không chi trả đồng nào, còn những người tham gia soạn thảo chương trình chi tiết, chỉ làm giúp, bằng tấm lòng yêu mến báo chí, chứ không đòi hỏi gì. Lúc này, Đại học Tổng hợp Hà Nội đã được phép đào tạo báo chí, khoa gửi hai các bộ trẻ ít giờ dạy ra Hà Nội học “bằng hai” về báo chí là các anh Trần Văn Thiện và Phan Thanh Thích. Sau hai năm rưỡi, các anh tốt nghiệp trở về, nhà trường thành lập bộ môn báo chí và lý luận văn học (1997), đó là lần đầu tiên “báo chí” có tên trong chương trình đào tạo cử nhân. Trước đó, trong khoa có bộ môn lý luận văn học và văn học nước ngoài do nhà giáo ưu tú Nguyễn Xuân Hòa, Chủ nhiệm khoa kiêm Trưởng bộ môn, thầy giáo Nguyễn Xớn làm phó. Khi thầy Hòa nghỉ hưu, anh Xớn lên làm Quyền trưởng bộ môn. Khi tách lý luận văn học nhập vào báo chí, lẽ ra anh Xớn sẽ làm Trưởng bộ môn, nhưng anh từ chối và gặp lãnh đạo khoa, nhà trường vận động để cử tôi làm Trưởng bộ môn và anh Trần Văn Thiện làm phó trưởng bộ môn. Lý do mà anh đưa ra là: “Nếu chỉ có lý luận văn học thì tôi sẵn sàng làm, nhưng có thêm báo chí và muốn cho báo chí nhanh chóng phát triển, thì nên chọn anh Phong là hợp lý hơn!” Song song với việc củng cố tổ chức, cũng trong năm nay học này, khi sinh viên Ngữ văn khóa 18 học xong năm thứ 3, chúng tôi tổ chức thi tuyển những em có năng khiếu, lên năm thứ tư học riêng hệ thống chuyên đề về báo chí và tốt nghiệp ghi trong bằng một mã ngành chung chung không có trong qui định đào tạo của nhà nước, là “cử nhân ngữ văn-báo chí”. Thực chất, đây là việc đào tạo “chui” vì chưa được nhà nước cấp phép và việc làm này kéo dài cho đến khóa 26, hằng năm cứ tự tuyển từ 15 đến 25 sinh viên có năng khiếu vào học chuyên ban báo chí. Đến cuối năm 2005, mới có mã ngành đào tạo báo chí và bắt đầu tuyển sinh  đào tạo cử nhân báo chí từ năm thứ nhất, khóa 27. Và, cũng từ đây, tách báo chí và lý luận văn học thành hai bộ môn riêng. Tôi quay về với lý luận văn học và lãnh đạo khoa muốn tôi làm trưởng bộ môn, nhưng tôi xin thôi để làm một giảng viên bình thường, nên họ điều một tiến sĩ về văn học Việt Nam, chưa từng có chuyên môn lý luận văn học về làm trưởng bộ môn! Cũng từ đây, tôi xin trả lại các môn chuyên môn cho báo chí, chỉ dạy sinh viên báo chí các môn đại cương mà thôi.
 

Một buổi sinh hoạt ngoại khóa của sinh viên Khoa Báo chí truyền thông- Đại học Khoa học Huế
 
Ôi chao, đoạn đường ai có qua rồi mới hay! Kể lướt qua thì như vậy, nhưng để có được mã ngành đào tạo cử nhân báo chí thời đó, thật hết sức gian nan. Bởi lẽ, báo chí thực chất là một bộ phận của hình thái ý thức chính trị, làm báo thực chất là làm chính trị theo một dạng hoạt động đặc thù. Khoa báo chí học phụ thuộc vào chính trị. Không phải như bây giờ báo chí mở khắp mọi nơi, ngay cả đại học tư thục cũng đào tạo được báo chí. Thời đó, cả nước chỉ có một nơi có quyền đào tạo các nhà báo, đó là Phân viện báo chí tuyên truyền thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Nhạy bén như hai trường đại học xã hội nhân văn ở hai đầu đất nước, đến thời điểm những năm cuối thế kỷ XX mới có mã ngành.  Không chỉ riêng tôi, mà cả bộ môn thời đó đã kiên trì, gần trọn mười năm mới xin được mã ngành. Anh em phải tự bỏ tiền túi ra để đi lại, hằng mấy chục lần ra, vào Hà Nội, bao nhiêu lần điện thoại “vận động hành lang” với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, lúc ấy là Ủy viên Bộ chính trị, Trưởng ban Tư tưởng văn hóa trung ương... Ngay cả trong nội bộ cán bộ trong khoa không phải ai cũng thống nhất. Có người đã tỏ ra nản lòng. Có người đề nghị chuyển sang xin mở mã ngành ngôn ngữ hoặc Hán Nôm cho dễ hơn. Tôi nhớ, vào khoảng giữa năm 2001, trong một lần họp giao ban để bàn việc có nên tiếp tục xin mở mã ngành báo chí hay không, người lãnh đạo cao nhất trường thời đó cũng thoái thác: “Trường hiện nay không có tiền, các anh có nhu cầu mở báo chí thì tự bỏ kinh phí ra để thực hiện, chứ đừng trông mong gì vào nhà trường...” Ngay cả việc nên gọi là chuyên ban hay chuyên ngành, nên ghi vào bằng tốt nghiệp là cử nhân gì, cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Các khóa 18,19 ghi là “ngữ văn-báo chí”; các khóa 20, 21 ghi là “ngữ văn (báo chí)”; các khóa 22,23,24,25,26 chỉ ghi là “ngữ văn” thôi, trong khi cả hệ thống chuyên đề năm thứ tư và làm luận văn (nay gọi là khóa luận) tốt nghiệp về báo chí.
 
Quan trọng hơn, là sự lệch pha về quan điểm đào tạo. Là một trường khoa học cơ bản, mục tiêu đào tạo chủ yếu là người nghiên cứu, nhà khoa học (ta hay gọi là cán bộ nghiên cứu), trong khi báo chí lại cần đào tạo người thực hành, người làm báo / nhà báo. Một người dạy báo không thể chưa từng viết báo. Thầy giao cho trò số liệu để viết một cái tin, xong thầy chấm và sữa cho trò, nhưng bản thân thầy thì không viết được! Khi tôi còn phụ trách, tôi lập đề án cho mỗi thầy cô, hằng năm ngoài giờ dạy, phải về thực hành công việc của người làm báo ở một cơ quan báo chí truyền thông trong vòng ba tháng, nếu hoàn thành công việc, đủ chỉ tiêu tin bài, trở về khoa mới được công nhận lao động tiên tiến. Thậm chí, cả thầy cô và sinh viên năm cuối tốt ngiệp phải đủ trình độ ngoại ngữ để thực hành, thực tập ở các tờ báo ở nước ngoài... Một làn sóng phản đối âm thầm ngay trong chính những người giảng dạy báo chí. Có người còn đòi đưa luật lao động để kiện chủ trương này ra tòa, vì lý do “tôi là thầy, là người dạy cho người khác làm báo, chứ không thể bắt tôi đi làm báo”, mặc dù tôi dạy cho người ta làm cái việc mà tôi không làm được tí tẹo nào! Đó là lý do chính tôi rời ngành báo, nơi mà tôi dốc hết tâm huyết gần cả một đời tôi vào đó, đành phải phủi tay lặng lẽ ra đi!         
 
Tôi biết là khi đứng ra xây dựng ngành báo ở vào một thời điểm quá khó khăn, tôi cũng không tránh khỏi những lỗi lầm, nhất là nợ nần những người đã giúp tôi soạn chương trình cho gần 30 môn học, hoặc ngay cả những nhà báo được mời đến truyền đạt một vài buổi mà không có thù lao tương xứng (mời cũng mời “chui” thôi, nhà trường có cho kinh phí đâu, chỉ dựa vào kinh phí của bộ môn, mà bộ môn làm gì ra tiền, có người đã lên mạng thắc mắc)... đó là do tôi quá quan tâm đến nghiệp vụ thực hành, cố gắng làm sao cho mỗi sinh viên được đào tạo ra đều có thể làm báo được ngay, không phải chờ đến thực tiễn đào tạo lại như học một số ngành khác. 
 
Cuối bài viết tản mạn này tôi xin thưa với lãnh đạo ngành báo chí đương nhiệm rằng, không biết ngày tách bộ môn báo chí ra khỏi lý luận văn học (năm 2005), hoặc ngày thành lập khoa Báo chí truyền thông (năm 2010) là ngày bao nhiêu, nhưng theo tôi nên lưu ý ngày 01.6.1997 là ngày PGS.TS Võ Duy Dần, Hiệu trưởng nhà trường ký quyết định thành lập bộ môn báo chí – lý luận văn học. 
 
Phạm Phú Phong  
Bản in    Gửi email
Tin mới
Lễ Truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và trao tặng “Huân chương Độc lập”  (23/07/2019)
Họp báo công bố Chuỗi sự kiện Công nghệ thông tin và Hội nghị Thúc đẩy phát triển sản xuất Nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế  (23/07/2019)
Phong Điền: Gồng mình chống hạn cứu lúa  (23/07/2019)
Lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà gia đình chính sách ở Hương Trà  (23/07/2019)
Khảo sát vị trí đặt bức tượng “ Người đàn ông cúi chào”  (23/07/2019)
Tin đã đưa
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp xúc cử tri tại A Lưới, Nam Đông, Hương Trà  (19/06/2019)
Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp xúc cử tri tại huyện Phong Điền  (19/06/2019)
Phú Vang: Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Phan Ngọc Thọ tiếp xúc cử tri  (19/06/2019)
Chủ tịch UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ gặp mặt báo chí  (19/06/2019)
Đoàn đại biểu HĐND tỉnh, thành phố tiếp xúc cử tri thành phố Huế  (18/06/2019)
Xem tiếp >>
Xem theo ngày  
Tên của bạn
Email của bạn
Email người nhận
Tiêu đề
Thông điệp
     


Trang chủ | Tin tức | Chuyên đề Liên hệ tòa soạn | Liên hệ quảng cáo
Bản quyền của Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế. Sử dụng thông tin của website này phải ghi rõ nguồn www.trt.com.vn
Giấy phép Số 23/GP-TTĐT cấp ngày 30 tháng 3 năm 2015 của Cục PT, TH & TTDT - Bộ Thông tin và Truyền thông
Tòa soạn: Số 58 Hùng Vương, thành phố Huế, Tel.: (054)3822162, Fax:(054)3822162, Email: dptth@thuathienhue.gov.vn
Thiết kế và phát triển: Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế (HueCIT)