Huế Xưa & Nay TRT - 01/04/2021
Dạo quanh xứ Huế
Nguyên Du là sinh viên khóa 5 (1981-1985) khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Huế (nay là Đại học Khoa học). Lớp anh có nhiều người theo đuổi nghiệp văn, trở thành những cây bút tên tuổi như Trần Quang Khanh, Võ Thị Hải, trong đó Hồ Thế Hà là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; nhiều người “không chịu ra trường” mà ở lại với ngành giáo dục, trở thành các phó giáo sư hoặc tiến sĩ như Bùi Mạnh Hùng, Hồ Thế Hà, Nguyễn Thành, Trần Trung Hỷ, Lê Thị Tuyết Ba... Riêng Nguyên Du chọn nghề làm báo phát thanh, từ phóng viên rồi trưởng thành dần, trở thành Giám đốc Đài phát thanh truyền hình Thừa Thiên Huế. Nay anh cũng đã gần đến tuổi nghỉ hưu, bỗng nhiên người ta phát hiện ra anh vẫn chưa hề nguội lạnh đối với văn chương, khi được đọc tập tản văn Nhất Huế nhì Sịa của anh vừa được nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2021.

Sách dày 220 trang, gồm có 45 bài, đều viết về thành phố Huế, vùng ngoại ô và thị trấn Sịa, quê ngoại của tác giả. Về bố cục, sách được chia làm ba phần, đưa dọc theo cái nhìn trong tâm thức người viết, cũng là đưa bước chân người đọc dạo quanh từ Phố xá thân quen, ra đến Miền ngoại ô, rồi cuối cùng là Về quê ngoại, ở một vùng đất mà từ những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước chỉ xếp sau thành phố Huế, trong câu nói cửa miệng của mọi người, được anh lấy làm tựa đề cho tác phẩm là Nhất Huế nhì Sịa! 

Phố xá thân quen của Nguyên Du là thành phố Huế. Huế vẫn là nhất, là trung tâm, là nơi nung nấu và níu giữ tâm hồn người đến với văn chương và đi tìm cái đẹp. Đất và người nơi đây không còn là không gian địa lý, không gian sinh hoạt, gắn liền với thời gian bốn mùa mưa nắng đỏng đảnh đan xen, mà đã trở thành không gian, thời gian nghệ thuật khi nó lắng đọng và lấp lánh qua tâm hồn nồng nàn men rượu hoài cảm của Nguyên Du. Vì vậy, anh dành cho phần này đến 22 bài, gắn liền với các địa danh như ga Huế, dinh tỉnh trưởng, đài phát thanh, ngã sáu, ngã giữa, trong đó có những địa danh hoặc tên gọi các sự vật chỉ có Huế mới có như Bến Ngự, Phủ Cam, An Cựu, Kho Rèn, Dã Viên, Bạch Hổ, Gia Hội, Trường Tiền, Quốc Học, sân vận động Tự Do... Địa danh lay động và chắt lọc qua tâm thức của người viết hiển ngôn thành câu chữ, không còn đơn thuần là tên gọi của vùng đất, ngôi trường, đường phố, chiếc cầu, dòng sông, cỏ cây hoa lá... mà còn là con người, những nhân vật, trong đó có cả những danh nhân, những huyền tích, những sự tích văn hóa – lịch sử, là tâm thức văn hóa nhân văn của thổ ngơi, xứ sở, được dẫn dắt một cách chậm rãi thông qua cảm quan nồng ấm cảm xúc, chất chứa đa cảm, đa mang của tác giả. Huế hiển hiện ra trong những “khuôn hình” đẹp lung linh, thấm đẫm tính nhân văn, có chút kín đáo, dịu dàng nhưng cao sang và đài các như những thước phim quây chậm nằm vắt ngang hai thế kỷ đầy những biến động, đổi thay: “Một sáng nào đó về đây ăn bún mệ Kéo, vào quán cafe Papa trưng bày nhiều tranh của họa sĩ hoàng tộc tài hoa, nhìn qua ô cửa nhỏ, bạn sẽ thấy dòng chảy thời gian như ngưng đọng bởi nét cổ xưa, đầy hoài niệm. Với người từ xa đến có thể dạo bước dưới bóng chiều tà, để thấm đẫm những giá trị vẹn nguyên một thời nơi phố cổ, không mênh mang như Phước Tích, không cũ kỹ như Bao Vinh mà gần gũi, ấm áp, nồng nàn như hương phố, hồn người” [Hồn phố Gia Hội, tr.82]. Thời gian thì đứng yên nhưng con người và cuộc sống, mọi thứ đều vận động thay đổi, không có cái gì là vĩnh cửu muôn đời. Dưới góc nhìn của Nguyên Du, mọi đổi thay là tất yếu, nhưng vẫn ẩn chứa đầy những ưu tư, tiếc nuối khôn nguôi: “ Việc xóa kiến trúc lâu đời ở chân cầu phía Nam Trường Tiền năm 2010 đã giúp cho không gian bờ sông, chân cầu thoáng đãng để rộng nhìn dòng Hương lặng lờ tình tự, để có thêm nhiều bóng xanh nâng dáng phượng hồng một thời hoa đỏ! Vậy mà tôi vẫn thấy tiếc nhiều và trống vắng mỗi lần ngang qua vì không gian ký ức xưa không còn nữa! Đây là một trong những kiến trúc đầu tiên của Pháp ở bờ Nam sông Hương khi chưa có cầu Trường Tiền và các kiến trúc khác xung quanh” [Đài Phát thanh Huế, tr.48]. Thay đổi để phát triển là chuyện hẳn nhiên, tất yếu, nhưng cũng có cái thay đổi mang sai lầm một cách đáng tiếc, do hạn chế của những tầm nhìn văn hóa. Ví như, chúng ta đang nổ lực xây dựng một thành phố di sản, nhưng di sản kiến trúc phương Tây ở các con đường Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Hà Nội đã và đang bị triệt phá. Nhưng với con người “lành tính” như Nguyên Du, anh không trách cứ mà chỉ nhẹ nhàng tiếc nuối khi bỗng chốc mất đi cái nơi “trước đây là trung tâm của thành phố mới ở bờ Nam với những kiến trúc Pháp quanh đây” và trầm tĩnh nói rằng: “Huế đã mất con đường bằng lăng mười năm rồi khi đường Lý Thường Kiệt mở rộng trồng cây so đo cam, hoa đỏ xốn xang, đường Đống Đa cây sưa vàng mới 5 giờ chiều đã ngủ, rủ lá buông cành! Để đi trên con đường nắng chiều nay, tôi lại nhớ con đường bằng lăng cũ” [Qua ngã sáu, tr.47].

Miền ngoại ô (có 13 bài) là vùng ven quanh phố, trong đó có Phường Đúc, là nơi chôn nhau cắt rốn của Nguyên Du, chỉ cách cái “trung tâm” anh nói trên kia chừng vài cây số. Đó còn là Long Thọ, Nguyệt Biều, Lương Quán, Cầu Lòn, Vọng Cảnh, Thiên An, Chín Hầm, Đập Đá, Chợ Dinh... Huế bây giờ mở rộng hơn nhiều. Trước năm 1975, bên kia cầu Lòn đã là địa phận của Hương Thủy, ngược đường Lê Lợi về bên kia Đập Đá đã là địa phận của Phú Vang. Viết về các địa danh, anh luôn lần ngược lại ngọn ngành giải thích tên gọi, rồi dốc ngược thời gian để đánh thức miền ký ức xa xôi và sâu thẳm trong tâm tưởng, dẫu rằng khi tỏ ra bất lực, anh cũng tự an ủi mình rằng: “Ký ức một vùng đất cũng như của mỗi một con người thôi, quên bớt những cái làm nên phiền muộn mà chắt chiu trân quý những tình cảm, kỷ niệm ngày xa, vun vén cho những gì đang có để mãi mãi thương yêu” [Bên dòng kênh cũ, tr.163]. Ai đó đã nói rằng, người nào nghĩ nhiều đến quá khứ, người đó không có tương lai. Nguyên Du là người có tâm hồn nghiêng về phía quá khứ xa xôi với thái độ chấp nhận cuộc chơi giữa đời. Người viết không chỉ đọc nhiều, đi nhiều, gặp gỡ, tiếp xúc và ghi chép nhiều, chi chít những dấu chân trên đường và chữ nghĩa trên trang giấy, mà có khi còn ngồi một chỗ, ngồi rất lâu tưởng chừng như đã gần mấy mươi năm trong một quán cafe bên kia Đập Đá, đưa cái nhìn xa tận cuối chân trời: “Ngồi ở đây có thể nhìn đường chân trời của Huế, nơi dòng sông Hương trải rộng đến thượng ngàn, có Trường Sơn xanh ngắt dưới những tầng mây bạc, khi chiều về là nơi ánh mặt trời lặng xuống nhuộm cố đô vàng trước khi ngã sang màu tím biếc của hoàng hôn / Cạnh bên là Cồn Hến, dòng nước luôn cuộn chảy, không lắng lại lớp bùn non làm cho hến nơi đây không mang nặng mùi bùn. Đường Hàn Mặc Tử nay đã thành con đường cơm hến, với mười mấy quán cơm, bún, trộn hến, chè Cồn. Huế cũng nghèo như sông, không lắm phù sa để nuôi người nên bao người đã bỏ cố xứ mà đi đến với những phương trời thoáng đạt, màu mở phù sa, cơ hội kim tiền, cũng có thể là một tình duyên không đi đến bến bờ. Để rồi sáng nay họ trở về quê hương mang theo vợ, chồng, con cái đậm thổ ngữ phương xa, đến Đập Đá dùng điểm tâm đọi bún bò giò heo, tô hến quê nhà, xuýt xoa với cái cay của người Huế gốc ớt” [Đập Đá mùa lũ, tr.140]. Có lẽ chỉ có ở Nguyên Du, tôi mới nghe nói đến người Huế có quê gốc từ ớt. Gợi nhớ câu thơ của Nguyễn khoa Điềm “Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡi”!

Ở phần Về quê (10 bài) là quê ngoại của Nguyên Du. Hóa ra, cả quê cha và quê mẹ của anh đều được xếp đầu bảng, ở vị trí nhất nhì. Từ bước chân cậu bé út thuở nào theo mẹ đi về Bao Vinh, thành Hóa Châu, đến Sịa rồi về An Lỗ, dừng chân ở suối nước nóng Thanh Tân, Tam Giang, Rú Chá, đầm Chuồn... cũng là một cuộc dạo quanh miền quê trong ký ức, và cũng nhờ thế mà trưởng thành. Nếu hôm nào không được mẹ cho theo thì nôn nao chờ mẹ ở bến sông: “Tôi vẫn còn nhớ như mới đây thôi, chiều chiều xuống bến sông Hương, chờ mẹ theo xe Sịa về, gánh bộ triêng gióng ngược lên bến đò Kim Long qua Phường Đúc bên này. Đứa con út là tôi cứ thui thủi ngồi bên bến nước trông vời... Mới đó thôi mà đã 55 năm, đường về Sịa nay đã khác, cậu bé xưa nay tóc đã bạc, chỉ có hình ảnh, tình cảm, nỗi nhớ về mẹ là không khác bao giờ!” [Nhất Huế nhì Sịa, tr.184-185].

Tản văn là thể văn xuôi trữ tinh, ở đó tác giả có thể xâu chuỗi nhiều sự kiện, nhiều chi tiết tản mạn được kết nối với nhau, thông qua sức liên tưởng mạnh mẽ, hay nói như ngôn ngữ của các nhà hậu hiện đại là sự kết nối có tính chất lên văn bản, để tạo nên những truyện không đầu không cuối. Vì vậy, tản văn của Nguyên Du cũng thấp thoáng xuất hiện bóng dáng các nhân vật, như người mẹ tảo tần, người cha nghiêm khắc, người yêu rồi người vợ dịu hiền, các anh chị em ruột, hàng xóm láng giềng, bạn bè thời còn trung học, những người công tác cùng cơ quan, những bóng hồng làm lay động tâm hồn, hoặc văn nhân nghệ sĩ tài danh mà tác giả từng gặp và có kỷ niệm gắn bó, những nhân vật lịch sử có liên quan đến đất và người xứ thần kinh... nhiều lắm, đông lắm, họ đứng chật trong tâm hồn đầy hoài niệm của tác giả, nhưng họ chỉ là hình tượng số đông thoáng hiện về vừa đủ gây “nhiễu sóng” cho ký ức mà thôi, còn hình tượng trung tâm vẫn là hình tượng tác giả, cái tôi trữ tình đủ sức chứa đựng và bộc lộ cảm xúc, tình cảm như hơi thở ấm áp, nhẹ nhàng nhưng có độ sâu và tỏa rộng trang văn. Cái đáng đọc của văn chương Nguyên Du chính là ở chỗ ấy. Tất nhiên, không phải bài nào trong tập cũng hay với một người vừa in sách lần đầu. Còn đôi chỗ, đôi nơi anh chỉ mới dừng lại ở văn chương tân văn / báo chí, chưa đi đến tận cùng một cách rốt ráo của vấn đề ( Bên đường đi bộ, Nửa thế kỷ vẫn là cầu mới, Những đồi vọng cảnh... ), nhưng đọc Nguyên Du, giúp ta hiểu thêm nhiều điều mới mẻ và bổ ích về nước non xứ Huế.

Gần đây, không cần các tiêu chí chuẩn mực của một ngành khoa học, người ta hay tôn vinh, trong đó ít nhiều cũng có sự tâng bốc lẫn nhau, là nhà Hà Nội học, nhà Quảng học, nhà Huế học... Tất nhiên, đó là nhằm khẳng định những người có kiến thức uyên bác về một vùng đất, khi họ giải mã được những vấn đề có tầm vóc lớn lao. Với tôi, đã là người Huế hoặc những người yêu Huế, hãy đến với Huế từ những điểm sáng nhỏ nhoi, từ tấm bia đá, chiếc cầu, dòng sông, con đường... thông qua lối diễn ngôn thật thà, chân chất của Nguyên Du, trước khi đến với những tri thức đồ sộ, sừng sững như Thạch Sùng của các nhà giàu có kia.

Phạm Phú Phong

Bản in    Gửi email
Tin mới
Mùa hoa loa kèn ở Huế  (08/04/2021)
Tiếng ve gọi hè  (05/04/2021)
Tin đã đưa
Cầu thủ Huế lên tuyển  (31/03/2021)
Huế mùa hoa nhãn  (22/03/2021)
Mùa hoa thầu đâu  (11/03/2021)
Người "thổi hồn" cho cây  (10/03/2021)
Khoai biển  (08/03/2021)
Xem tiếp >>
Xem theo ngày  
Tên của bạn
Email của bạn
Email người nhận
Tiêu đề
Thông điệp
     


 

Trang chủ | Tin tức | Chuyên đề Liên hệ tòa soạn | Liên hệ quảng cáo
Bản quyền của Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế. Sử dụng thông tin của website này phải ghi rõ nguồn www.trt.com.vn
Giấy phép Số 23/GP-TTĐT cấp ngày 30 tháng 3 năm 2015 của Cục PT, TH & TTDT - Bộ Thông tin và Truyền thông
Tòa soạn: Số 58 Hùng Vương, thành phố Huế, Tel.: (054)3822162, Fax:(054)3822162, Email: dptth@thuathienhue.gov.vn
Thiết kế và phát triển: Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế (HueCIT)